Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường THCS Phiêng Khoài
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tri tue do thai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đào Minh Huyền (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:30' 03-08-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đào Minh Huyền (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:30' 03-08-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Lời giới thiệu
Chương 1: Một buổi tụ tập tại quán Café Ladino
Chương 2: Bí ẩn về sự thông thái của người Do Thái
Chương 3: Lời tiên tri của Frankel
Chương 4: Trí thông minh của người sống sót
Chương 5: Tại sao người Do Thái luôn trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi
khác?
Chương 6: Sự sáng tạo của người Do Thái
Chương 7: Hãy tìm cho mình một thầy đạo siêu đẳng
Chương 8:Luôn luôn ghi nhớ và không bao giờ lãng quên
Chương 9: Những ghi chép kỳ diệu của thầy Dahari
Chương 10: Kỹ nghệ của trí thông minh
Điệu tăng gô của người Do Thái cổ - Hevrutah
Giọng nam trung của Scheiderman Học bằng cách nói thật to
Kỹ năng Ben-Gurion - Năng lượng của não bộ
Nghĩa vụ phải vui vẻ - Nguyên tắc của đức tin
Schneiderman – người chinh phục– Bí quyết của sự sáng suốt
Chương 11: Họp nhóm về sư cải thiện trí nhớ của Jerome
Bàn cà phê hay bàn làm việc -Điều kiện học tập lý tưởng
Nguyên nhân của tính hay quên và các yếu tố gây nhiễu khác
Tại sao một bà mẹ Do Thái lại luôn muốn con mình ăn thật nhiều?
Sự khởi đầu tốt là sự khởi đầu mang đến những điều thú vị
Hiệu ứng Brita
Chương 12: Họp nhóm về sự cải thiện trí nhớ của Jerome
Trò chơi zigzag
Ghi nhớ bằng cách lặp lại và ngữ điệu
Chương 13: Làm thế nào để nhớ được những việc cần làm, các loại danh sách
và các câu chuyện cười
Phương pháp “Hình-số”
Phương pháp chữ cái
Bộ sưu tập chuyện cười của Schneiderman
Chương 14: Phương pháp học ngoại ngữ và các thuật ngữ
Chương 15: Khuôn mặt thiên thần
Sự sáng suốt của khuôn mặt và tâm hồn
Peter, Paul và Mary
Phương pháp nickname
Tên và những chữ cái đầu
Chương 16: Jerome – bậc thầy của trí tuệ Do Thái
Nguyên tắc của trí tưởng tượng:
Nguyên tắc của người sống sót
Nguyên tắc của sự hiếu biết
Nguyên tắc về việc nâng cấp
Nguyên tắc về nguồn cảm hứng
Bí quyết về trí nhớ kỳ diệu của Jerome -15 gợi ý và phương pháp của người Do
Thái để phát triển một tri nhớ siêu việt
Tiền bản quyền của cuốn sách này được dành tặng cho Quỹ
Từ Thiện Sao Biển do Hoa hậu Thế giới người Việt Ngô
Phương Lan sáng lập, đồng thời là chủ tịch quỹ.
ERAN KATZ
Dự án 1.000.000 ebook miễn phí cho di động
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Phát hành: http://www.SachMoi.net
Lời giới thiệu
(cho bản tiếng Việt)
Quý bạn đọc thân mến!
Cuốn sách mà bạn đang cầm trên tay là kết quả của mối
nhân duyên kỳ ngộ giữa Công ty Sách Alpha và tác giả của nó
là Eran Katz - một nhà văn, học giả người Israel, cũng là
người nổi tiếng với kỷ lục Guines về khả năng nhớ lại được
một dãy số có đến 25 chữ số sau khi được nghe chỉ một lần.
Eran Katz đến Việt Nam hồi đầu năm 2009 với bản thảo
bằng tiếng Anh của hai cuốn sách: Secret of a Super Memory
và Jerome Becomes a Genius, đã xuất bản bằng tiếng Hebrew
(ngôn ngữ chính thức của Israel) và đã được dịch ra nhiều thứ
tiếng trên thế giới. Ông mong muốn hai bản thảo này được
dịch và xuất bản bằng tiếng Việt.
Nhiều nhà xuất bản và công ty sách, nhà sách có tiếng ở
Việt Nam nồng nhiệt chào đón ông. Nhưng cuối cùng, ông đã
chọn Alpha Books. Và ông đề nghị Công ty chuyển phần lớn
tiền bản quyển của hai cuốn sách này cho Quỹ Sao Biển của
Hoa hậu người Việt Ngô Phương Lan - một quỹ từ thiện nhằm
giúp đỡ trẻ em và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn ở Việt Nam.
Cuốn Jerome Becomes a Genius (với tựa đề tiếng Việt
Trí tuệ Do Thái) là câu chuyện kể vẽ một chàng trai Do Thái
tên là Jerome. Gã trai này có cái vẻ bể ngoài, nói theo cách của
người Việt Nam chúng ta, là khá “lấc cấc”, sống “lông bông”,
ăn mặc “lố lăng”. Gần như lúc nào anh ta cũng diện độc một
chiếc quần bò bạc phếch, với đủ loại áo phông in những hình
thù kỳ dị và những câu khẩu hiệu nghe rất chướng tai mà anh
ta đang hăng hái quảng cáo và tiếp thị. Anh ta cũng rất ham
mê thể thao, đặc biệt là môn bóng đá.
Thế nhưng, trái với cái vẻ bề ngoài buồn cười đó, anh ta
may mắn có được một động lực phấn đấu thật đặc biệt, dựa
trên một vụ cá cược tưởng như đùa bỡn giữa anh ta với hai
người bạn thân - một là Itamar Forman, giáo sư đại học; một là
tác giả, nhà văn Eran Katz của chúng ta. Trong vòng ba năm,
Jerome sẽ tích cực làm ăn để có một tài sản trị giá 50 triệu đôla, đồng thời theo học một khóa Quản trị kinh doanh và thi lấy
bằng Thạc sĩ, nhưng theo cách thức mà những người Do Thái
thường làm.
Rốt cục, Jerome đã làm được hơn thế rất nhiểu. Nói
đúng hơn, anh đã trở thành một “thiên tài” đúng với ý nghĩa
đích thực của từ này. Chỉ hai năm, anh đã kiếm được 20 triệu
đô-la, vẫn bằng cái nghề thiết kế mẫu và buôn bán đủ loại áo
phông mà anh yêu thích; anh đã học xong chương trình đại
học Quản trị kinh doanh. Và chẳng cần đợi đến khi có đủ 50
triệu đô-la và tấm bằng Thạc sĩ trong tay, Jerome cưới luôn
Lisa, cô gái mà anh yêu và tôn thờ như “một phụ nữ Do Thái
đặc biệt”.
Trong không khí trang nghiêm, tưng bừng và cũng rất
lãng mạn của lễ thành hôn, ba người bạn lại có dịp gặp nhau
và ôn lại câu chuyện cá cược lúc trước. Itamar và Eran ngỏ ý
rằng, những mục tiêu cao cả mà họ đã cùng Jerome đặt ra
không nhất thiết phải được thực hiện quá hoàn hảo. Nhưng
Jerome tươi cười nói, công việc làm ăn của anh hiện nay rất có
triển vọng, và thời gian còn lại một năm nữa là quá đủ để anh
hoàn thành nốt những gì còn lại.
*
Dựa trên cốt truyện lãng mạn này, cuốn sách dần dần hé
lộ những bí ẩn về sự thông thái của người Do Thái. Nó kể
chuyện về một dân tộc Do Thái thông tuệ với những phương
pháp và kỹ thuật xây dựng và phát triển tầng lớp trí thức đã
được giữ kín hàng ngàn năm như một bí mật mang tính văn
hóa. Ở thời Trung đại, hơn 17% những nhà khoa học hàng đầu
là người Do Thái, trong khi dân tộc Do Thái chỉ chiếm 1% dân
số loài người.
Cho đến nay, người Do Thái luôn được gắn với phẩm
chất về chất xám và trí tuệ. Thuật ngữ “Bộ óc Do Thái”, dùng
để chỉ một người nào đó thật thông thái, đã trở thành cụm từ
được sử dụng bởi cả những người Do Thái và người không
phải Do Thái. Không còn nghi ngờ gì nữa, Do Thãi có lẽ là
dân tộc giàu có nhất trên thế giới nếu tính về tài năng. Những
cái tên Do Thái nổi bật, chiếm giữ nhiều vị trí quan trọng và
có tầm ảnh hưởng lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Những
số liệu thống kê sau đây cho tháy sự thành công vĩ đại mà dân
tộc nhỏ bé này đã đạt được:
Về tư tưởng: Moses, Sigmund Freud, Albert Einstein.
Thậm chí cả Karl Marx và chúa Jesus cũng là người Do Thái.
Chính trị: Cựu Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, Thủ tướng
Áo Bruno Kreisky, Thủ tưởng Pháp Pierre Mendes- France,
Thủ tướng Na Uy Grew Brondenvald…
Văn học: Shai Agnon, Shalom Aleichem, Isaac Bashevis
Singer, Franz Kafka, Isaac Asimov, Joseph Heller…
Âm nhạc cổ điển: Yascha Heifetz, Daniel Bumbaum,
Isaac Stem, Arthur Rubinstein.
Ngành giải trí: Barbara Streisand, Mandy Patinkin, Billy
Joel, Simon & Garfunkel, Paul Anka, Jerry Seinfeld, Jackie
Mason, Marcel Marceau, Larry King, David Copperfield…
Điện ảnh: Woody Allen, anh em nhà Marx, Billy
Crystal, Steven Speilberg, Bette Midler, Harrison Ford…
Kinh doanh: Reichman, Bronfman, Estee-Lauder,
George Soros, Ralph Lauren, Ben Cohen, Adam Citroen…
Ở nước Mỹ hiện nay: Có 1/3 triệu phú Mỹ, và 20% giáo
sư tại các trường đại học hàng đầu của Mỹ là người Do Thái.
*
Đọc đến đây, chắc quý bạn đọc rất nóng lòng muốn biết:
Người Do Thái đã sáng tạo ra những gì và nguồn gốc trí tuệ
của họ xuất phát từ đâu? Trong khuôn khổ của Lời giới thiệu
này, chúng tôi chỉ có thể nói rằng, để đạt được thành công và
trở thành một “thiên tài” đích thực, Jerome đã chăm chỉ và cố
gắng hết mình. Bên cạnh đó, anh đã được hai người bạn thân
nhiệt tình giúp đỡ, được vị giảng sư trường đạo Dahari giảng
giải về triết lý, được một cậu sinh viên trường đạo là
Schneiderman chia sẻ kinh nghiệm học hỏi, được cô gái Lisa
hướng dẫn các thuật nhớ, được ông bác của Usa là Samuel cho
lời khuyên, thậm chí còn được những người bình thường như
anh chủ quán cà phê Fabio khích lệ.
Công ty Sách Alpha xin trân trọng giới thiệu cuốn sách
rất hay này với bạn đọc, và xin chân thành kính chúc bạn đọc
ngày càng đạt được nhiều thành công mới trong cuộc sống.
Hà Nội, tháng 11 năm 2009
CÔNG TY SÁCH ALPHA
Chương 1: Một buổi tụ tập tại quán Café Ladino
Chỉ một câu nói. Chi từng đó thôi cũng có thể thay đổi
cuộc đời một con người. Dù sao, đó là điều đã xảy ra với
Jerome…
Trên tầng 14 của khách sạn Marriott ở Tulsa, Oklahoma,
trong lúc đợi thang máy xuống tiền sảnh, tôi bắt đầu thấy hồi
hộp. Lúc cửa thang máy mở ra là lúc tôi đang duyệt lại một
lượt tất cả những điểm cơ bản trong bài phát biểu sắp tới của
mình.
Trong thang máy có một anh chàng cao to, vai rộng, mặc
một bộ vest màu trắng đầy hoa văn, trên đầu anh ta ngự một
chiếc mũ cao bồi, còn cổ thì đung đưa một chiếc thánh giá
bằng vàng. Đôi ủng cao bồi là phụ kiện cuối cùng làm nên bộ
trang phục hoành tráng của anh ta, đúng là một hình ảnh rất ấn
tượng. Chỉ thiếu mỗi con ngựa, mà có khi nó đang đợi ở ngoài
bãi đỗ xe của khách sạn cũng nên. Trên ve áo anh chàng cao
bồi có một tấm card ghi tên cuộc hội thảo mà tôi sắp tham dự.
Tấm card ghi, “Jini Brown, Houston, TX.”
“Chào anh,” tôi mở lời với người lạ mặt khi bước chân
vào buồng thang máy.
“Xin chào,” anh ta đáp lời với âm mũi đặc trưng của
người Texas cùng một nụ cười tươi, rộng đến tận mang tai.
Anh ta liếc nhìn tấm card ghi tên tôi và đọc to, “Eran Katz,
Jerusalem, Israel, Diễn giả.” Một chút ngạc nhiên làm nụ cười
của anh ta còn tươi hơn.
“Anh đến từ Jerusalem Đó hả?”, anh ta hỏi tôi.
Jerusalem Đó, theo tôi hiểu, tức là Jerusalem - thủ đô
của Israel chứ không phải Jerusalem - một trong số những thị
trấn nho nhỏ ở Mỹ có cùng tên.
“Một và chỉ một mà thôi,” tôi đáp lại, lòng đầy tự hào.
“Tôi đã luôn mơ ước một ngày được đến đó.”
“Chín trăm đô, mười hai tiếng, thế là đến nơi rồi,” tôi
nói lại. Anh chàng có tên Brown mỉm cười hiểu ý.
“Anh là diễn giả buổi sáng nay hả?”, anh ta nói, nửa
khẳng định, nửa dò hỏi.
“Phải.” Tôi nghĩ đến những lo lắng của mình về chủ đề
của bài phát biểu, vậy nên tôi quyết định nói sơ qua cho anh ta
về chủ đề tôi sắp trình bày.
“Nghe có vẻ rất thú vị đây,” anh ta động viên tôi.
“Cảm ơn. Tôi cũng chỉ mong có thế,” tôi trả lời khi cánh
cửa thang máy mở ra tiền sảnh.
“Chắc chắc là thế rồi,” Brown nói chắc như đinh đóng
cột khi chúng tôi cùng nhau ra khỏi thang máy. “Những người
Do Thái các anh là những người thực sự rất thông minh.”
Tôi mỉm cười khi chào tạm biệt, rồi hai người đi về hai
phía khác nhau.
Có thể những những hoàn cảnh khác, tôi sẽ cảm thấy
một chút phân biệt chủng tộc trong những lời anh ta nói,
nhưng Jim Brown gây cho tôi ấn tượng rằng anh ta là một
người tốt và chân thành. Anh ta không phải là người đầu tiên
nói những lời đó với tôi, và tôi cũng chẳng phải là người Do
Thái đầu tiên được nghe lời khen đó. Tôi đi dạo loanh quanh
trong tiền sảnh, cảm giác hơi lạ lẫm. Tận sâu trong tâm trí
mình, có một điều gì đó vẫn khiến tôi không yên - một điều gì
đó rất khó nắm bắt mà tôi không thể chạm đến đưọc. Trong lúc
tiếp tục suy ngẫm về điều đó, tôi đã đi đến một kết luận rằng,
về cơ bản, bây giờ tôi có hai mối quan tâm:
1. Tại sao ai cũng nói như vậy về người Do Thái?
2. Làm thế nào để tìm được chính xác chỗ ăn sáng trong
vòng hai mươi phút tới?
Bởi những thôi thúc của cái dạ dày luôn được đặt lên
hàng đầu trong đanh sách ưu tiên nên tôi đành gạt qua một bên
bí ẩn về “Những người Do Thái thông minh.” Tôi có cảm giác
rằng vào lúc bảy rưỡi sáng như thế này, một tách cà phê đặc và
một chiếc bánh sừng bò sẽ tốt cho kỹ năng thuyết trình của tôi
hơn nhiều so với lời giải cho một thắc mắc nho nhỏ về triết
học.
Một tuần sau cuộc gặp với Jim Brown, như thường lệ,
tôi lại gặp Itamar và Jerome tại quán Café Ladino. Sáng thứ
sáu nào cũng vậy, cứ 10 giờ là chúng tôi hẹn nhau ở quán cà
phê nhỏ bé, quen thuộc này, một cái lỗ tí xíu trên bức tường
rộng lớn, một góc khuất nằm trong một ngõ nhỏ ở khu Nahlaot
của Jerusalem. Rất ít người biết đến quán cà phê tuyệt vời này.
Jerome đã phát hiện ra nó từ hồi hắn còn đi giao báo buổi
sáng. Những bài hát Do Thái tiếng Ladino và ánh sáng màu
cam mê hoặc đã thu hút hắn vào cái mà ban đầu hắn cứ ngỡ là
một tầng hầm. Hắn bước tiếp thêm bốn bước nữa, những bước
chân dẫn hắn từ con phố vào trong một cái hang được chiếu
sáng bằng những ngọn đuốc. Sàn nhà được trải bằng những
tấm thảm Ba Tư, những chiếc bàn hình tròn rải rác khắp căn
phòng. Nơi đó có không khí mát mẻ, dễ chịu. Chủ nhân của
quán, Fabio, là một người đam mê tiếng Ladino. Đó là lý do vì
[1]
sao những bài hát thuần tiếng Ladino , từ những bản nhạc
nhẹ nhàng lãng mạn cho đến những những bài hát salsa khó
tìm, luôn đều đặn phát ra từ những chiếc loa giấu kín. Trong
nhiều năm, Fabio đã cố gắng rất nhiều để cải thiện quán. Anh
ta đã cho đập bức tường phía sau, mở một cánh cửa thông ra
khoảng sân nhỏ sau quán. Anh ta thuê người xây một khoảng
hiên rất đẹp, trồng vài cái cây quanh đó và đặt một bức tượng
bằng đồng pha thiếc mà anh họ anh ta tự tay làm. Thé đấy, đó
là nơi chúng tôi vẫn gặp nhau vào thứ sáu hàng tuần, đúng 10
giờ; thình thoảng chúng tôi ngồi trong cái hang, đôi lúc lại ở
ngoài hiên, tùy thuộc vào thòi tiết và tâm trạng mỗi lần đến
quán. Những người khách còn lại của quán là những cặp đôi
lãng mạn hoặc những người khách du lịch tình cờ đi ngang
qua.
Thực ra thì chính ba chúng tôi cũng gặp nhau rất tình cờ,
Itamar Forman và tôi biết nhau từ hồi học đại học. Tôi vẫn
thường copy bài tập của cậu ta để chuẩn bị cho những buổi
thảo luận chuyên để mà chúng tôi cùng tham gia. Cậu ta đủ
tốtt bụng để giúp tôi, còn tôi thì đủ tốt bụng để chấp nhận sự
giúp đỡ đó. Có một người bạn như thế, tôi thấy chẳng việc gì
phải bắt bản thân mình quá sức, nhất là khi tôi còn có những
môn học khác đòi hỏi nhiều thời gian và sức lực hơn. Đôi khi,
tôi còn trả tiền cho Itamar để cậu ta làm bài cho tôi - nhất là
khi tôi không có đủ thời gian; như hồi mùa hè năm 1990 chẳng
hạn, khi đó là thời gian diễn ra World Cup ở Italia. Dù rất tôn
trọng khóa học về “Những nhân tố trong mối quan hệ giữa
người Do Thái và người Ả Rập kế từ Ngày chuyển giao đến
nay,” nhưng trong những ngày đó, mối quan hệ giữa Macro
van Hasten và Ruud Gulit của đội Hà Lan còn quan trọng với
tôi hơn nhiều.
Hiện tại, Itamar là giáo sư giảng dạy môn Khoa học
Chính trị. Cậu ta đã kết hôn với Dalia, cô gái cậu ta quen ở
trường đại học và họ đã có hai đứa con sinh đôi đặt tên là
Omry và Noa.
Jerome lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Jerome và
tôi gặp nhau nhờ chiếc FIAT 127 nho nhỏ, xinh xinh của hắn.
Hắn đã tông vào đuôi xe tôi trong khi lùi ra khỏi bãi đậu. Tôi
nhớ mình đã bóp còi chiếc Subaru của mình inh ỏi nhưng chả
có tích sự gì. Hắn thậm chí còn không thèm nhìn vào gương
chiếu hậu trước khi bắt đầu lùi. Lúc đó hắn đang bận nghe
tường thuật trận bóng đá trên đài giữa đội Hà Lan và Brazil, và
đúng vào lúc hắn sang số lùi thì Frank Rijkaard làm bàn đưa
Hà Lan lên dẫn trước. Vì cũng là một fan bóng đá cuổng nhiệt
nên tôi phải đồng ý với hắn rằng sang số lùi vào đúng lúc ai đó
ghi bàn là một điều hoàn toàn khó kiểm soát. Ở đây, chúng tôi
nói về hai hành động ở hai thái cực hoàn toàn mâu thuẫn với
nhau.
Khi Jerome chui ra khỏi xe để đánh giá thiệt hại mà hắn
đã gây ra, mắt tôi bắt gặp hình ảnh một gã cao nghều, gầy
nhẳng với mái tóc bờm sư tử loăn quăn, cặp kính tròn màu đen
giông cặp kính mà Buddy Holly vẫn hay đeo. Tuy vậy, điều ấn
tượng nhất ở vẻ ngoài của hắn lại là chiếc áo. Trên đó in một
hình vẽ, màu sáng, trông giống như “bà ngoại” Golda Meir,
cựu thủ tướng Israel. Chính cái khoảnh khắc đó, tôi đã nhận ra
Jerome đặc biệt đến mức nào. Có bao nhiêu người dám đi
khắp nơi với một chiếc áo phô ra hình của Golda Meir chứ?
Kể từ đó, chúng tôi trở thành những người bạn vĩ đại của nhau.
Jerome là một người cực kỳ đặc biệt. Hắn sinh ra ở Australia
và mặc dù hắn đã sống ở Israel hơn 25 năm nhưng hắn vẫn có
chất giọng đặc trưng của dân mói nhập cư. Hắn đặc biệt hay
mặc những chiếc áo với màu sắc dễ gây ảo giác mua ở Hawaii
và các đảo vùng Caribbean, trên những chiếc áo đó in những
bức hình nghệ thuật của những người mà chẳng ai nghĩ sẽ đem
[2]
in lên áo. Thay vì những tấm hình của Bon Jovi, Bono hay
những ngôi sao nhạc rock khác, trong bộ sưu tập của Jerome,
người ta sẽ có thể bắt gặp Khadaffi, Madeline Albright, Abba
[3]
Eban hay thậm chí là Nelson Mandela
khoác trên mình bộ
đồ Người dơi. Đến tận bây giờ, Jerome vẫn kiếm được kha khá
từ những chiếc áo như thế.
Jerome là một anh chàng vui tính. Hắn rất có khiếu hài
hước và niềm lạc quan của hắn dành cho cuộc sống có thể biến
mọi trở ngại trên con đường hắn đi thành những kinh nghiệm
vĩ đại. Hắn có đến cả triệu bạn bè và dành phần lớn thời gian
của cuộc đời để chạy xô từ bữa tiệc này sang bữa tiệc khác.
Chúng tôi là những người bạn “trí thức” của hắn. Ít nhất, đây
cũng là từ mà hắn vẫn khoái đùng để giới thiệu chúng tôi với
mọi người trong những dịp hiếm hoi chúng tôi đi dự tiệc cùng
hắn.
Vậy đó, theo lệ thường, như tôi đã nói, chúng tôi lại tụ
tập vào một thời điếm quen thuộc, ở một nơi quen thuộc mà
không hề biết rằng cái ngày thứ sáu đặc biệt đó sẽ thay đổi
cuộc đời chúng tôi…
Chúng tôi đang ngồi tán chuyện về việc làm ăn của
Jerome và về chuyến đi mới nhất của tôi tới Mỹ. Đến cuối
buổi, tự nhiên tôi nghĩ đến Jim Brown và kể cho hai người
nghe về cuộc đổi thoại trong thang máy.
“Ai là người đầu tiên quan niệm rằng người Do Thái là
những người có trí thông minh vậy nhỉ?”, tôi đặt vấn để với
Itamar. “Chỉ là định kiến hay nó có gắn với một sự kiện nào
đó?”
Itamar nhún vai và nhìn lên trời.
“Nghe này,” cậu ta nói to suy nghĩ của mình thành lời,
“trong quá khứ, và thậm chí cả ngày nay nữa, người Do Thái
luôn được gắn với phẩm chất về chất xám và trí tuệ. Thuật ngữ
'Bộ óc Do Thái' dùng để chi một người nào đó thật thông thái,
đã trở thành cụm từ được sử dụng bởi cả những người Do Thái
và người không theo đạo Do Thái.” Cậu ta ngừng lại để suy
nghĩ một lát. “Nhưng điều này rất thú vị,” cậu ta bỗng nhiên
nói tiếp. “Điều bí ẩn này đã phát triển như thế nào, và vể mặt
học thuật mà nói thì nó có còn tồn tại không? Tớ chưa bao giờ
ngẫm nghĩ thật kỹ về vấn đề này.”
“Không phải chỉ vì một kiểu đại loại như chủ nghĩa bài
Do Thái há?”, tôi gợi ý, cố tìm lời giải cho vân đề mình đưa ra.
“Không hẳn là thế,” Itamar nhận xét “Có những người
không chịu ảnh hưởng của những thiên kiên đó, và họ chấp
nhận điểu này như một thực tế hoàn toàn rõ ràng, mặc dù cũng
có xen lẫn một chút đố kỵ. Một kiểu đố kỵ xuất phát từ lòng
ngưỡng mộ,” Itamar khẳng định. “Mặt khác, nếu là quan điểm
bài Do Thái thì 'bộ óc Do Thái' phải được nói bằng những từ
ngữ tiêu cực chứ.”
“Rõ ràng là,” Jerome xen vào cuộc thảo luận, “một
người Do Thái thông minh là một người Do Thái nguy hiểm.
Chính từ điều này, người ta mới dựng nên điều bí ẩn đó – bởi
vì đối với họ một bộ óc Do Thái là một kẻ xảo quyệt, nham
hiểm và khó lường.”
“Dù thế nào đi nữa,” Itamar tiếp tục mà không thèm để ý
đến lối của Jerome. “Có một điều rất thú vị là những người Do
Thái, ít nhất, đã thành công trong việc liên kết những kẻ không
ưa họ và những người ủng hộ họ trong một điều: chưa từng có
ai nói người Do Thái ngu ngốc. Một khuôn mẫu đã luôn gắn
liền với người Do Thái - và mọi đứa trẻ đều lớn lên với khuôn
mẫu này - rằng dân tộc Do Thái là một dân tộc thông minh,
khôn khéo và có đầu óc nhạy bén.”
Tôi nhìn Itamar đầy ngưỡng mộ. Theo nhịp được quá
trình suy nghĩ rất hệ thống và logic của cậu ta lúc nào cũng là
một kinh nghiệm rất thú vị với tôi. Khi ai đó hỏi cậu ta bất cứ
câu hỏi gì, cậu ta không bao giờ trả lời chỉ mang tính chất
chiếu lệ. Cậu ta luôn suy nghĩ theo chiều sâu của vấn đề.
“Mà thực ra, chả có gì bất thường trong chuyện này,”
cậu ta tiếp tục, một minh chứng hùng hồn cho những điều mà
tôi đang nghĩ về cậu ta. “Dân tộc nào chẳng có một vài kiểu
khái quát hóa như thế. Hầu như tất cả các dân tộc đều có
những nét đặc trưng nhất định gắn liền với mình, cho dù
những nét, đặc trưng này có thật hay không đi chăng nữa.
Người Scotland keo kiệt, người Mexico lười biếng, người
Thụy Sĩ nghiêm khắc, người Nhật láu cá, người Đức mô
phạm..
“Xem nào,” Itamar nói tiếp, “còn gì nữa không nhỉ… À,
người Italia thì sao nhỉ?”
'“Người Italia là những người tình tuyệt vời,” Jerome
phát biểu.
“Còn người Pháp?” Itamar vẫn tiếp tục.
“Người Pháp cũng là những người tình tuyệt vời,”
Jerome thông thái khẳng định.
“Có dân tộc nào không khiến cậu nghĩ đến chuyện trăng
hoa lăng nhăng không hả?”, tôi hỏi Jerome.
[4]
“Có chứ,” hắn trả lời. “Người Polak . Tớ không thể
tượng tượng ra cảnh họ trên giường.” Ba chúng tôi cùng bật
cười khúc khích khi nghĩ đến cảnh đó. Vấn đề ở đây là mặc dù
cuộc thảo luận là vể chủ đề các mẫu hình đặc trưng, câu nhận
xét này vẫn cho thấy Jerome là người thích phân biệt chủng
tộc và khoái châm biếm.
“Tại sao những con chó ở Ba Lan lại có mũi tẹt?”,
Jerome tiếp, và sau một vài giây im lặng, “Bởi vì chúng đuổi
theo những chiếc xe đang đậu!” Hắn phá ra cười làm chúng tôi
cười theo.
Trong mấy phút sau đó, chúng tôi lao vào những trận
cười nghiêng ngả khi cả ba thay nhau kể chuyện cười về các
dân tộc khác nhau, mỗi câu chuyện lại khiến người kia nhớ
đến một câu chuyện cười đại loại như thế. Dần dần, chúng tôi
cạn hết những câu chuyện và ngồi đó im lặng, cố gắng lấy lại
hơi sau những trận cười mệt lử. Một lần nữa - 'hình như'
những “người Do Thái thông minh” không có sự nhạy cảm với
những nét đặc trưng của các dân tộc khác và tự chiều chuộng
mình bằng việc cười cợt. Nếu chỉ đơn giản là kể các câu
chuyện theo một mạch thống nhất thì đã đành… nhưng đằng
này bạn ta lại kể chuyện đùa để cười đùa, giễu cợt. Liệu bạn có
cười không nếu một nhóm những gã người Tây Ban Nha phá
lên cười trước những câu đùa về chuyện người Do Thái viêm
màng túi?
Jerome nghịch chiếc tách cà phê của hắn, nhìn chằm
chằm vào đó như kiêu đang nằm mơ giữa ban ngày. Tôi mân
mê gói đường, còn Itamar hết gập lại duỗi chân trong khi dán
mắt vào cặp vợ chổng già mới buớc vào quán.
“Và chuyện những người Do Thái thông minh,” Itamar
lên tiếng, đưa chúng tôi trở lại với chủ đề đang dở. “thật thú
vị,” cậu ta tiếp tục trầm ngâm. “Tớ phải tìm hiểu xem tại sao
lại có điều bí ẩn này mới được.” Trông cậu ta như thể thực sự
đang rất trăn trở trước vấn đề đó.
“Các cậu biết đấy,” tôi bất chợt lý luận. “Tớ đã giảng
một vài buổi tại Viện ngôn ngữ Do Thái về việc cải thiện trí
[5]
nhớ. Cuối mỗi buổi dạy, sinh viên lớp Torah hay đến chỗ tớ
và nói về những phương pháp nghiên cứu, những kỹ năng phát
triển trí nhớ mà họ vẫn sử dụng. Điểu thú vị, điều này có liên
quan đến vấn đề chúng ta đang thảo luận, là tớ chưa từng bắt
gặp những phương pháp đó trong bất cứ cuốn sách nào hay
trong bất cứ nghiên cứu nào mà tớ từng thực hiện.”
Mắt Itamar sáng lên. “Cậu nói nghiêm túc chứ?” Cậu ta
kéo ghế thẳng lại và ngồi dựa vế phía tôi.
“Rất nghiêm túc,”' tôi trả lời.
“Điều đó thật đáng kinh ngạc,” cậu ta nói bằng một
giọng phấn khích mà tôi không thể nào hiểu nổi. Cậu ta nhìn
đăm đăm ra ngoài cây táo trồng trong sân, đôi mắt đảo đảo cho
thấy cậu ta đang suy nghĩ hết công suất.
“Điều gì đáng kinh ngạc cơ?” Jerome, cũng giống như
tôi, đang cố gắng hiểu sự việc.
“Ở đây, chúng ta có hai điểm,” cậu ta phân tích tình
huống theo đúng cái kiểu 'Itamar-biết-tuốt' đặc trưng của
mình. “Chúng ta có một điều bí ẩn đằng sau sự khôn ngoan và
sắc sảo của người Do Thái, và chúng ta có những phương pháp
thực tế mà người Do Thái đã sửdụng trong hàng thế kỷ qua!”
Cậu ta phá vỡ dòng suy nghĩ của chính mình. “Nếu tớ hiểu
đúng, chúng ta đang có một câu chuyện vĩ đại trong tay - câu
chuyện về một dân tộc Do Thái thông tuệ với những
phương pháp và kỹ thuật phát triển tầng lớp trí thức đã
được giữ kín hàng ngàn năm như một bí mật mang tính
chất văn hóa. Chúng ta có thể viết nên một cuốn sách kỳ vĩ về
tất cả những điều này.”
“Tại sao phải làm thế?”, Jerome hỏi, chẳng thèm che dấu
sự thiếu hứng thú của mình.
“Để tất cả mọi người trên thế giới này có thể được
hưởng lợi từ bí mật đó, tất nhiên là thế rồi,” Itamar đập mạnh
tay xuống bàn đầy hăng hái. “Nghĩ mà xem. Chúng ta có thể
dạy cho những đứa trẻ người Na Uy, chẳng hạn thế, cách để
ghi hàng núi thông tin về các bài kiểm tra thông qua việc sử
dụng chính những phương pháp đã giúp các sinh viên Do Thái
theo học tại trường đạo nhớ được kinh Talmud giỏi đến vậy!
Chủng ta cũng có thể dạy các thương nhân cách đàm phán,
thương thuyết bằng chính phương pháp mà các nhà buôn Do
Thái đã làm ở châu Âu… hay… thậm chí… chúng ta có thể
chỉ cho sinh viên Harvard cách đạt toàn điểm A bằng chính
những kỹ thuật đã biến Marahal của Praha hay Gaon của
[6]
Vilna thành những học giả Torah vĩ đại!
“Nếu chúng ta nói đến những phương pháp có hiệu quả
thì tại sao lại phải bó hẹp chúng trong khuôn khổ bức tường
của những trường đạo chứ? Tại sao tất cả mọi người lại không
áp dụng những phương pháp đó chứ? Các cậu có hiểu điểu tớ
muốn nói không? Chúng ta có thể bật mí những bí mật của bộ
óc Do Thái!” Cậu ta kết thúc suy nghĩ của mình bằng một sáng
kiến, một điều đang bắt đầu sôi sục lên trong tâm trí mình.
Sự kích động của Itamar bắt đầu ảnh hưởng đến tôi. Có
một điều gì đó trong những điều cậu ta nói thực sự rất độc đáo.
Đó là kiểu ý tưởng mà bạn sẽ tự hỏi chính mình, “Làm sao mà
mình lại không nghĩ ra sớm hơn nhỉ?”
Một lúc sau, Jerome buông ra một câu làm chúng tôi cụt
hứng.
“Xin lỗi nhé, nhưng chính xác thì 'chúng ta' mà bọn
mình đang nói đến là ai vậy? Với tất cả lòng tự trọng, tớ chính
xác không phải là ứng cử viên thích hợp cho vị trí đồng tác giả
[7]
đâu đấy. Đẩu tiên, tớ đủ vừa đủ điểm qua được kỳ thi SAT .
Thứ hai, trừ khi có phương pháp nào đó để phát triển tri thức
hướng tới việc kiếm một cô bạn gái, còn nếu không, tớ chả
hứng thú với cuốn sách của các cậu đâu,” Jerome nói huỵch
toẹt. Roi ngay lập tức, hắn nói thêm “dù vậy, tớ sẵn sàng giúp
các cậu tiếp thị tại thị trường Carribe. Biết đâu kế hoạch này
lại giúp vụ kinh doanh quần áo của tớ ở đấy phát đạt thì sao.
Nó sẽ nhắc người ta nhớ rằng người Do Thái là những người
cực kỳ sáng láng… đại loại như thế.” Hắn cười tự mãn ra vẻ
rất đồng tình.
“Cậu nói gì ấy nhỉ, Eran?” Itamar hỏi tôi. “Cậu có muốn
thực hiện ý tưởng này không?”
“Nghe có vẻ thú vị lắm,” tôi trả lời. “Thực sự rất hấp
dẫn,” Tôi không thể kiềm chế được.
Itamar thu xếp mấy thứ đồ lặt vặt của cậu ta và ra hiệu
cho bồi bàn đem hóa đơn đến cho chúng tôi. “Đến thứ sáu tuần
sau, tớ sẽ tìm hiểu được sự hình thành bí ẩn về người Do Thái
thông minh. Tớ có một vài giả thuyết về sự bí ẩn này.” Cậu ta
nguệch ngoạc vài dòng ra một tờ khăn ăn nhỏ, nhét nó vào túi
bên của chiếc cặp da và kéo ghế đứng dậy. “Xin lỗi nhưng tớ
phải đi đây. Tớ có hẹn với nha sĩ” cậu ta giải thích.
Jerome cũng đứng dậy và thay cặp kính đọc sách bằng
một cặp kính râm thời trang. “Cả tớ, cũng phải đi con đường
của mình đây,”' hắn nói. “12 giờ tớ có hẹn với chuyên gia
chăm sóc sắc đẹp, Bob,” hắn lại một ỉlần nữa giở câu đùa quen
thuộc.
“Còn tớ thì có hẹn với cái hóa đơn, chắc là vậy rồi,” tôi
thở dài khi thọc tay vào túi quần và rút ví ra.
Liền kề với bãi đỗ xe bên ngoài, trước khi đến lối vào
siêu thị, tôi chợt thấy cô Lippman, cô giáo tôi hồi lớp sáu. Hai
mươi năm đã trôi qua kể từ lần cuối tôi gặp cô (nói đúng hơn
là làm phiền cô, như tôi vẫn thường vậy), và tôi nghĩ rằng
minh nên lịch sự một chút bằng cách đến chào cô. Tôi băng
qua đường và gọi to. “Cô Lippman ơi.”
Cô quay lại và nheo nheo mắt, cố nhận ra xem tôi là ai,
“Yossi à,” cô hướng về phía tôi.
“Eran ạ,” tôi sửa lại.
“Eran Burnstein!” cô nói thêm.
“Eran Katz.”
“Eran Katz hả!” cô kêu lên cùng một nụ cười gượng.
“Ôi, tất nhiên là cô nhớ rồi.”
Trên khuôn mặt cô tôi chẳng thấy có dấu hiệu gì chứng
tỏ niềm vui của cô khi gặp lại cậu học trò cũ là tôi.
Tôi hỏi thăm tình hình cô và tỏ ý muốn nghe những điều
cô đã trải qua trong suốt hai mươi năm qua. Rõ ràng là cô đã
đi qua rất nhiều sự kiện. Mà thực tế là hình như năm nào cũng
có một điều gì đó đáng kể xảy ra với cô, và tôi là một kẻ cực
kỳ may mắn mới được nghe tắt cà những sự kiện đó, với tốc
độ khoảng mười lăm phút cho mỗi năm.
Mặc dù sự chán ngán và khó chịu đã vây xung quanh tôi
nhưng tôi nghĩ mình nên cho cô một chút cảm giác hài lòng
trong nghề nghiệp. Nhiểu năm đã trôi qua từ khi tôi phá hoại
những buổi cô lên lớp hay đơn giản chỉ là không thèm đến lớp,
giờ tôi tự hào nói với cô rằng tôi, một học sinh cá biệt, đang
viết một cuốn sách về bí mật của bộ óc Do Thái, và tôi đang
tìm hiểu sự thật đằng sau bí ẩn về sự thông minh của người Do
Thái,
“Cái đó thì có gì mà tìm hiểu?” Cô hỏi tôi, với đúng cái
giọng của một bà giáo. “Đó lả một thực tế! Người Do Thái
luôn thông minh.” Tôi chợt nhớ lại lý do tại sao tôi hay bỏ giờ
cô hai mươi năm về trước. Trong mọi trường hợp, chỉ cần có
cơ hội là cô ngăn cản bất cứ ai có ý định viết một cuốn sách về
bí ẩn sự thông thái của người Do Thái. Cô chính là bằng chứng
sống cho thực tế rằng không phải người Do Thái nào cũng
được Đấng tối cao ban cho một bộ óc. Mặt khác, chính vì cô,
niềm hứng thú của tôi với việc tìm hiểu bí ẩn này tiếp tục lớn
dần lên.
Chương 2: Bí ẩn về sự thông thái của người Do Thái
Đúng một tuần sau, chúng tôi lại gặp nhau ở Café
Ladino. Chúng tôi đã không nói chuyện cả tuần vừa rồi và tôi
thấy mình thực sự trông đợi buổi tụ họp lần này. Tôi băn
khoăn không biết Itamar có bỏ công tìm hiểu về điều bí ẩn đó
không và cậu ta có phát hiện ra thông tin gì hay không, hay là
sự hào hứng của cậu ta đã nguội dần trong mấy ngày qua.
Khi tôi đến quán cà phê thì thấy Jerome đang đợi bên
ngoài. Hắn kẹp một tờ báo dưới cánh tay và mặc một chiếc áo
sơ mi, có iẽ là kinh dị nhất mà tôi từng thấy: một chiếc áo có
cảnh rừng rú loang lổ màu in hình Kofi Anan, Tổng Thư ký
Liên Hợp Quốc, đang chuyền cành từ cây nọ sang cây kia.
Quán vắng tanh, còn Fabio thì đang đợi chúng tôi với
cánh tay giang rộng. Chúng tôi ngồi xuống chiếc bàn quen
thuộc trong “hang.” Mười phút sau, Itamar xuất hiện, đóng bộ
một bộ vest tối màu, thanh lịch cùng một chiếc cà vạt lụa màu
vàng sáng, trông có vẻ đắt tiền.
“Jerome này, đây mới là kiểu chúng ta nên mặc,” tôi
phát biểu, mắt vẫn không rời khỏi Itamar.
“Trông cậu bảnh lắm,” Jerome nhận xét, “nhưng tớ nghĩ
bộ này cần thêm một chút màu sắc nữa… có lẽ là điểm thêm
vài vệt hồng hồng, xanh xanh thì đẹp hơn.”
“Hôm nay tớ phải đi dự một buổi hội đàm,” Itamar giải
thích vẻ hối lỗi. Cậu ta ngồi xuống ghế và rút ra một đống giấy
tờ, sách vở từ trong túi.
“Các cậu nghĩ sao,” cậu ta bắt đầu bằng một vẻ mặt rất
thỏa mãn, “nếu tớ nói rằng cả tuần vừa qua, tớ chẳng làm việc...
Lời giới thiệu
Chương 1: Một buổi tụ tập tại quán Café Ladino
Chương 2: Bí ẩn về sự thông thái của người Do Thái
Chương 3: Lời tiên tri của Frankel
Chương 4: Trí thông minh của người sống sót
Chương 5: Tại sao người Do Thái luôn trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi
khác?
Chương 6: Sự sáng tạo của người Do Thái
Chương 7: Hãy tìm cho mình một thầy đạo siêu đẳng
Chương 8:Luôn luôn ghi nhớ và không bao giờ lãng quên
Chương 9: Những ghi chép kỳ diệu của thầy Dahari
Chương 10: Kỹ nghệ của trí thông minh
Điệu tăng gô của người Do Thái cổ - Hevrutah
Giọng nam trung của Scheiderman Học bằng cách nói thật to
Kỹ năng Ben-Gurion - Năng lượng của não bộ
Nghĩa vụ phải vui vẻ - Nguyên tắc của đức tin
Schneiderman – người chinh phục– Bí quyết của sự sáng suốt
Chương 11: Họp nhóm về sư cải thiện trí nhớ của Jerome
Bàn cà phê hay bàn làm việc -Điều kiện học tập lý tưởng
Nguyên nhân của tính hay quên và các yếu tố gây nhiễu khác
Tại sao một bà mẹ Do Thái lại luôn muốn con mình ăn thật nhiều?
Sự khởi đầu tốt là sự khởi đầu mang đến những điều thú vị
Hiệu ứng Brita
Chương 12: Họp nhóm về sự cải thiện trí nhớ của Jerome
Trò chơi zigzag
Ghi nhớ bằng cách lặp lại và ngữ điệu
Chương 13: Làm thế nào để nhớ được những việc cần làm, các loại danh sách
và các câu chuyện cười
Phương pháp “Hình-số”
Phương pháp chữ cái
Bộ sưu tập chuyện cười của Schneiderman
Chương 14: Phương pháp học ngoại ngữ và các thuật ngữ
Chương 15: Khuôn mặt thiên thần
Sự sáng suốt của khuôn mặt và tâm hồn
Peter, Paul và Mary
Phương pháp nickname
Tên và những chữ cái đầu
Chương 16: Jerome – bậc thầy của trí tuệ Do Thái
Nguyên tắc của trí tưởng tượng:
Nguyên tắc của người sống sót
Nguyên tắc của sự hiếu biết
Nguyên tắc về việc nâng cấp
Nguyên tắc về nguồn cảm hứng
Bí quyết về trí nhớ kỳ diệu của Jerome -15 gợi ý và phương pháp của người Do
Thái để phát triển một tri nhớ siêu việt
Tiền bản quyền của cuốn sách này được dành tặng cho Quỹ
Từ Thiện Sao Biển do Hoa hậu Thế giới người Việt Ngô
Phương Lan sáng lập, đồng thời là chủ tịch quỹ.
ERAN KATZ
Dự án 1.000.000 ebook miễn phí cho di động
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Phát hành: http://www.SachMoi.net
Lời giới thiệu
(cho bản tiếng Việt)
Quý bạn đọc thân mến!
Cuốn sách mà bạn đang cầm trên tay là kết quả của mối
nhân duyên kỳ ngộ giữa Công ty Sách Alpha và tác giả của nó
là Eran Katz - một nhà văn, học giả người Israel, cũng là
người nổi tiếng với kỷ lục Guines về khả năng nhớ lại được
một dãy số có đến 25 chữ số sau khi được nghe chỉ một lần.
Eran Katz đến Việt Nam hồi đầu năm 2009 với bản thảo
bằng tiếng Anh của hai cuốn sách: Secret of a Super Memory
và Jerome Becomes a Genius, đã xuất bản bằng tiếng Hebrew
(ngôn ngữ chính thức của Israel) và đã được dịch ra nhiều thứ
tiếng trên thế giới. Ông mong muốn hai bản thảo này được
dịch và xuất bản bằng tiếng Việt.
Nhiều nhà xuất bản và công ty sách, nhà sách có tiếng ở
Việt Nam nồng nhiệt chào đón ông. Nhưng cuối cùng, ông đã
chọn Alpha Books. Và ông đề nghị Công ty chuyển phần lớn
tiền bản quyển của hai cuốn sách này cho Quỹ Sao Biển của
Hoa hậu người Việt Ngô Phương Lan - một quỹ từ thiện nhằm
giúp đỡ trẻ em và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn ở Việt Nam.
Cuốn Jerome Becomes a Genius (với tựa đề tiếng Việt
Trí tuệ Do Thái) là câu chuyện kể vẽ một chàng trai Do Thái
tên là Jerome. Gã trai này có cái vẻ bể ngoài, nói theo cách của
người Việt Nam chúng ta, là khá “lấc cấc”, sống “lông bông”,
ăn mặc “lố lăng”. Gần như lúc nào anh ta cũng diện độc một
chiếc quần bò bạc phếch, với đủ loại áo phông in những hình
thù kỳ dị và những câu khẩu hiệu nghe rất chướng tai mà anh
ta đang hăng hái quảng cáo và tiếp thị. Anh ta cũng rất ham
mê thể thao, đặc biệt là môn bóng đá.
Thế nhưng, trái với cái vẻ bề ngoài buồn cười đó, anh ta
may mắn có được một động lực phấn đấu thật đặc biệt, dựa
trên một vụ cá cược tưởng như đùa bỡn giữa anh ta với hai
người bạn thân - một là Itamar Forman, giáo sư đại học; một là
tác giả, nhà văn Eran Katz của chúng ta. Trong vòng ba năm,
Jerome sẽ tích cực làm ăn để có một tài sản trị giá 50 triệu đôla, đồng thời theo học một khóa Quản trị kinh doanh và thi lấy
bằng Thạc sĩ, nhưng theo cách thức mà những người Do Thái
thường làm.
Rốt cục, Jerome đã làm được hơn thế rất nhiểu. Nói
đúng hơn, anh đã trở thành một “thiên tài” đúng với ý nghĩa
đích thực của từ này. Chỉ hai năm, anh đã kiếm được 20 triệu
đô-la, vẫn bằng cái nghề thiết kế mẫu và buôn bán đủ loại áo
phông mà anh yêu thích; anh đã học xong chương trình đại
học Quản trị kinh doanh. Và chẳng cần đợi đến khi có đủ 50
triệu đô-la và tấm bằng Thạc sĩ trong tay, Jerome cưới luôn
Lisa, cô gái mà anh yêu và tôn thờ như “một phụ nữ Do Thái
đặc biệt”.
Trong không khí trang nghiêm, tưng bừng và cũng rất
lãng mạn của lễ thành hôn, ba người bạn lại có dịp gặp nhau
và ôn lại câu chuyện cá cược lúc trước. Itamar và Eran ngỏ ý
rằng, những mục tiêu cao cả mà họ đã cùng Jerome đặt ra
không nhất thiết phải được thực hiện quá hoàn hảo. Nhưng
Jerome tươi cười nói, công việc làm ăn của anh hiện nay rất có
triển vọng, và thời gian còn lại một năm nữa là quá đủ để anh
hoàn thành nốt những gì còn lại.
*
Dựa trên cốt truyện lãng mạn này, cuốn sách dần dần hé
lộ những bí ẩn về sự thông thái của người Do Thái. Nó kể
chuyện về một dân tộc Do Thái thông tuệ với những phương
pháp và kỹ thuật xây dựng và phát triển tầng lớp trí thức đã
được giữ kín hàng ngàn năm như một bí mật mang tính văn
hóa. Ở thời Trung đại, hơn 17% những nhà khoa học hàng đầu
là người Do Thái, trong khi dân tộc Do Thái chỉ chiếm 1% dân
số loài người.
Cho đến nay, người Do Thái luôn được gắn với phẩm
chất về chất xám và trí tuệ. Thuật ngữ “Bộ óc Do Thái”, dùng
để chỉ một người nào đó thật thông thái, đã trở thành cụm từ
được sử dụng bởi cả những người Do Thái và người không
phải Do Thái. Không còn nghi ngờ gì nữa, Do Thãi có lẽ là
dân tộc giàu có nhất trên thế giới nếu tính về tài năng. Những
cái tên Do Thái nổi bật, chiếm giữ nhiều vị trí quan trọng và
có tầm ảnh hưởng lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Những
số liệu thống kê sau đây cho tháy sự thành công vĩ đại mà dân
tộc nhỏ bé này đã đạt được:
Về tư tưởng: Moses, Sigmund Freud, Albert Einstein.
Thậm chí cả Karl Marx và chúa Jesus cũng là người Do Thái.
Chính trị: Cựu Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, Thủ tướng
Áo Bruno Kreisky, Thủ tưởng Pháp Pierre Mendes- France,
Thủ tướng Na Uy Grew Brondenvald…
Văn học: Shai Agnon, Shalom Aleichem, Isaac Bashevis
Singer, Franz Kafka, Isaac Asimov, Joseph Heller…
Âm nhạc cổ điển: Yascha Heifetz, Daniel Bumbaum,
Isaac Stem, Arthur Rubinstein.
Ngành giải trí: Barbara Streisand, Mandy Patinkin, Billy
Joel, Simon & Garfunkel, Paul Anka, Jerry Seinfeld, Jackie
Mason, Marcel Marceau, Larry King, David Copperfield…
Điện ảnh: Woody Allen, anh em nhà Marx, Billy
Crystal, Steven Speilberg, Bette Midler, Harrison Ford…
Kinh doanh: Reichman, Bronfman, Estee-Lauder,
George Soros, Ralph Lauren, Ben Cohen, Adam Citroen…
Ở nước Mỹ hiện nay: Có 1/3 triệu phú Mỹ, và 20% giáo
sư tại các trường đại học hàng đầu của Mỹ là người Do Thái.
*
Đọc đến đây, chắc quý bạn đọc rất nóng lòng muốn biết:
Người Do Thái đã sáng tạo ra những gì và nguồn gốc trí tuệ
của họ xuất phát từ đâu? Trong khuôn khổ của Lời giới thiệu
này, chúng tôi chỉ có thể nói rằng, để đạt được thành công và
trở thành một “thiên tài” đích thực, Jerome đã chăm chỉ và cố
gắng hết mình. Bên cạnh đó, anh đã được hai người bạn thân
nhiệt tình giúp đỡ, được vị giảng sư trường đạo Dahari giảng
giải về triết lý, được một cậu sinh viên trường đạo là
Schneiderman chia sẻ kinh nghiệm học hỏi, được cô gái Lisa
hướng dẫn các thuật nhớ, được ông bác của Usa là Samuel cho
lời khuyên, thậm chí còn được những người bình thường như
anh chủ quán cà phê Fabio khích lệ.
Công ty Sách Alpha xin trân trọng giới thiệu cuốn sách
rất hay này với bạn đọc, và xin chân thành kính chúc bạn đọc
ngày càng đạt được nhiều thành công mới trong cuộc sống.
Hà Nội, tháng 11 năm 2009
CÔNG TY SÁCH ALPHA
Chương 1: Một buổi tụ tập tại quán Café Ladino
Chỉ một câu nói. Chi từng đó thôi cũng có thể thay đổi
cuộc đời một con người. Dù sao, đó là điều đã xảy ra với
Jerome…
Trên tầng 14 của khách sạn Marriott ở Tulsa, Oklahoma,
trong lúc đợi thang máy xuống tiền sảnh, tôi bắt đầu thấy hồi
hộp. Lúc cửa thang máy mở ra là lúc tôi đang duyệt lại một
lượt tất cả những điểm cơ bản trong bài phát biểu sắp tới của
mình.
Trong thang máy có một anh chàng cao to, vai rộng, mặc
một bộ vest màu trắng đầy hoa văn, trên đầu anh ta ngự một
chiếc mũ cao bồi, còn cổ thì đung đưa một chiếc thánh giá
bằng vàng. Đôi ủng cao bồi là phụ kiện cuối cùng làm nên bộ
trang phục hoành tráng của anh ta, đúng là một hình ảnh rất ấn
tượng. Chỉ thiếu mỗi con ngựa, mà có khi nó đang đợi ở ngoài
bãi đỗ xe của khách sạn cũng nên. Trên ve áo anh chàng cao
bồi có một tấm card ghi tên cuộc hội thảo mà tôi sắp tham dự.
Tấm card ghi, “Jini Brown, Houston, TX.”
“Chào anh,” tôi mở lời với người lạ mặt khi bước chân
vào buồng thang máy.
“Xin chào,” anh ta đáp lời với âm mũi đặc trưng của
người Texas cùng một nụ cười tươi, rộng đến tận mang tai.
Anh ta liếc nhìn tấm card ghi tên tôi và đọc to, “Eran Katz,
Jerusalem, Israel, Diễn giả.” Một chút ngạc nhiên làm nụ cười
của anh ta còn tươi hơn.
“Anh đến từ Jerusalem Đó hả?”, anh ta hỏi tôi.
Jerusalem Đó, theo tôi hiểu, tức là Jerusalem - thủ đô
của Israel chứ không phải Jerusalem - một trong số những thị
trấn nho nhỏ ở Mỹ có cùng tên.
“Một và chỉ một mà thôi,” tôi đáp lại, lòng đầy tự hào.
“Tôi đã luôn mơ ước một ngày được đến đó.”
“Chín trăm đô, mười hai tiếng, thế là đến nơi rồi,” tôi
nói lại. Anh chàng có tên Brown mỉm cười hiểu ý.
“Anh là diễn giả buổi sáng nay hả?”, anh ta nói, nửa
khẳng định, nửa dò hỏi.
“Phải.” Tôi nghĩ đến những lo lắng của mình về chủ đề
của bài phát biểu, vậy nên tôi quyết định nói sơ qua cho anh ta
về chủ đề tôi sắp trình bày.
“Nghe có vẻ rất thú vị đây,” anh ta động viên tôi.
“Cảm ơn. Tôi cũng chỉ mong có thế,” tôi trả lời khi cánh
cửa thang máy mở ra tiền sảnh.
“Chắc chắc là thế rồi,” Brown nói chắc như đinh đóng
cột khi chúng tôi cùng nhau ra khỏi thang máy. “Những người
Do Thái các anh là những người thực sự rất thông minh.”
Tôi mỉm cười khi chào tạm biệt, rồi hai người đi về hai
phía khác nhau.
Có thể những những hoàn cảnh khác, tôi sẽ cảm thấy
một chút phân biệt chủng tộc trong những lời anh ta nói,
nhưng Jim Brown gây cho tôi ấn tượng rằng anh ta là một
người tốt và chân thành. Anh ta không phải là người đầu tiên
nói những lời đó với tôi, và tôi cũng chẳng phải là người Do
Thái đầu tiên được nghe lời khen đó. Tôi đi dạo loanh quanh
trong tiền sảnh, cảm giác hơi lạ lẫm. Tận sâu trong tâm trí
mình, có một điều gì đó vẫn khiến tôi không yên - một điều gì
đó rất khó nắm bắt mà tôi không thể chạm đến đưọc. Trong lúc
tiếp tục suy ngẫm về điều đó, tôi đã đi đến một kết luận rằng,
về cơ bản, bây giờ tôi có hai mối quan tâm:
1. Tại sao ai cũng nói như vậy về người Do Thái?
2. Làm thế nào để tìm được chính xác chỗ ăn sáng trong
vòng hai mươi phút tới?
Bởi những thôi thúc của cái dạ dày luôn được đặt lên
hàng đầu trong đanh sách ưu tiên nên tôi đành gạt qua một bên
bí ẩn về “Những người Do Thái thông minh.” Tôi có cảm giác
rằng vào lúc bảy rưỡi sáng như thế này, một tách cà phê đặc và
một chiếc bánh sừng bò sẽ tốt cho kỹ năng thuyết trình của tôi
hơn nhiều so với lời giải cho một thắc mắc nho nhỏ về triết
học.
Một tuần sau cuộc gặp với Jim Brown, như thường lệ,
tôi lại gặp Itamar và Jerome tại quán Café Ladino. Sáng thứ
sáu nào cũng vậy, cứ 10 giờ là chúng tôi hẹn nhau ở quán cà
phê nhỏ bé, quen thuộc này, một cái lỗ tí xíu trên bức tường
rộng lớn, một góc khuất nằm trong một ngõ nhỏ ở khu Nahlaot
của Jerusalem. Rất ít người biết đến quán cà phê tuyệt vời này.
Jerome đã phát hiện ra nó từ hồi hắn còn đi giao báo buổi
sáng. Những bài hát Do Thái tiếng Ladino và ánh sáng màu
cam mê hoặc đã thu hút hắn vào cái mà ban đầu hắn cứ ngỡ là
một tầng hầm. Hắn bước tiếp thêm bốn bước nữa, những bước
chân dẫn hắn từ con phố vào trong một cái hang được chiếu
sáng bằng những ngọn đuốc. Sàn nhà được trải bằng những
tấm thảm Ba Tư, những chiếc bàn hình tròn rải rác khắp căn
phòng. Nơi đó có không khí mát mẻ, dễ chịu. Chủ nhân của
quán, Fabio, là một người đam mê tiếng Ladino. Đó là lý do vì
[1]
sao những bài hát thuần tiếng Ladino , từ những bản nhạc
nhẹ nhàng lãng mạn cho đến những những bài hát salsa khó
tìm, luôn đều đặn phát ra từ những chiếc loa giấu kín. Trong
nhiều năm, Fabio đã cố gắng rất nhiều để cải thiện quán. Anh
ta đã cho đập bức tường phía sau, mở một cánh cửa thông ra
khoảng sân nhỏ sau quán. Anh ta thuê người xây một khoảng
hiên rất đẹp, trồng vài cái cây quanh đó và đặt một bức tượng
bằng đồng pha thiếc mà anh họ anh ta tự tay làm. Thé đấy, đó
là nơi chúng tôi vẫn gặp nhau vào thứ sáu hàng tuần, đúng 10
giờ; thình thoảng chúng tôi ngồi trong cái hang, đôi lúc lại ở
ngoài hiên, tùy thuộc vào thòi tiết và tâm trạng mỗi lần đến
quán. Những người khách còn lại của quán là những cặp đôi
lãng mạn hoặc những người khách du lịch tình cờ đi ngang
qua.
Thực ra thì chính ba chúng tôi cũng gặp nhau rất tình cờ,
Itamar Forman và tôi biết nhau từ hồi học đại học. Tôi vẫn
thường copy bài tập của cậu ta để chuẩn bị cho những buổi
thảo luận chuyên để mà chúng tôi cùng tham gia. Cậu ta đủ
tốtt bụng để giúp tôi, còn tôi thì đủ tốt bụng để chấp nhận sự
giúp đỡ đó. Có một người bạn như thế, tôi thấy chẳng việc gì
phải bắt bản thân mình quá sức, nhất là khi tôi còn có những
môn học khác đòi hỏi nhiều thời gian và sức lực hơn. Đôi khi,
tôi còn trả tiền cho Itamar để cậu ta làm bài cho tôi - nhất là
khi tôi không có đủ thời gian; như hồi mùa hè năm 1990 chẳng
hạn, khi đó là thời gian diễn ra World Cup ở Italia. Dù rất tôn
trọng khóa học về “Những nhân tố trong mối quan hệ giữa
người Do Thái và người Ả Rập kế từ Ngày chuyển giao đến
nay,” nhưng trong những ngày đó, mối quan hệ giữa Macro
van Hasten và Ruud Gulit của đội Hà Lan còn quan trọng với
tôi hơn nhiều.
Hiện tại, Itamar là giáo sư giảng dạy môn Khoa học
Chính trị. Cậu ta đã kết hôn với Dalia, cô gái cậu ta quen ở
trường đại học và họ đã có hai đứa con sinh đôi đặt tên là
Omry và Noa.
Jerome lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Jerome và
tôi gặp nhau nhờ chiếc FIAT 127 nho nhỏ, xinh xinh của hắn.
Hắn đã tông vào đuôi xe tôi trong khi lùi ra khỏi bãi đậu. Tôi
nhớ mình đã bóp còi chiếc Subaru của mình inh ỏi nhưng chả
có tích sự gì. Hắn thậm chí còn không thèm nhìn vào gương
chiếu hậu trước khi bắt đầu lùi. Lúc đó hắn đang bận nghe
tường thuật trận bóng đá trên đài giữa đội Hà Lan và Brazil, và
đúng vào lúc hắn sang số lùi thì Frank Rijkaard làm bàn đưa
Hà Lan lên dẫn trước. Vì cũng là một fan bóng đá cuổng nhiệt
nên tôi phải đồng ý với hắn rằng sang số lùi vào đúng lúc ai đó
ghi bàn là một điều hoàn toàn khó kiểm soát. Ở đây, chúng tôi
nói về hai hành động ở hai thái cực hoàn toàn mâu thuẫn với
nhau.
Khi Jerome chui ra khỏi xe để đánh giá thiệt hại mà hắn
đã gây ra, mắt tôi bắt gặp hình ảnh một gã cao nghều, gầy
nhẳng với mái tóc bờm sư tử loăn quăn, cặp kính tròn màu đen
giông cặp kính mà Buddy Holly vẫn hay đeo. Tuy vậy, điều ấn
tượng nhất ở vẻ ngoài của hắn lại là chiếc áo. Trên đó in một
hình vẽ, màu sáng, trông giống như “bà ngoại” Golda Meir,
cựu thủ tướng Israel. Chính cái khoảnh khắc đó, tôi đã nhận ra
Jerome đặc biệt đến mức nào. Có bao nhiêu người dám đi
khắp nơi với một chiếc áo phô ra hình của Golda Meir chứ?
Kể từ đó, chúng tôi trở thành những người bạn vĩ đại của nhau.
Jerome là một người cực kỳ đặc biệt. Hắn sinh ra ở Australia
và mặc dù hắn đã sống ở Israel hơn 25 năm nhưng hắn vẫn có
chất giọng đặc trưng của dân mói nhập cư. Hắn đặc biệt hay
mặc những chiếc áo với màu sắc dễ gây ảo giác mua ở Hawaii
và các đảo vùng Caribbean, trên những chiếc áo đó in những
bức hình nghệ thuật của những người mà chẳng ai nghĩ sẽ đem
[2]
in lên áo. Thay vì những tấm hình của Bon Jovi, Bono hay
những ngôi sao nhạc rock khác, trong bộ sưu tập của Jerome,
người ta sẽ có thể bắt gặp Khadaffi, Madeline Albright, Abba
[3]
Eban hay thậm chí là Nelson Mandela
khoác trên mình bộ
đồ Người dơi. Đến tận bây giờ, Jerome vẫn kiếm được kha khá
từ những chiếc áo như thế.
Jerome là một anh chàng vui tính. Hắn rất có khiếu hài
hước và niềm lạc quan của hắn dành cho cuộc sống có thể biến
mọi trở ngại trên con đường hắn đi thành những kinh nghiệm
vĩ đại. Hắn có đến cả triệu bạn bè và dành phần lớn thời gian
của cuộc đời để chạy xô từ bữa tiệc này sang bữa tiệc khác.
Chúng tôi là những người bạn “trí thức” của hắn. Ít nhất, đây
cũng là từ mà hắn vẫn khoái đùng để giới thiệu chúng tôi với
mọi người trong những dịp hiếm hoi chúng tôi đi dự tiệc cùng
hắn.
Vậy đó, theo lệ thường, như tôi đã nói, chúng tôi lại tụ
tập vào một thời điếm quen thuộc, ở một nơi quen thuộc mà
không hề biết rằng cái ngày thứ sáu đặc biệt đó sẽ thay đổi
cuộc đời chúng tôi…
Chúng tôi đang ngồi tán chuyện về việc làm ăn của
Jerome và về chuyến đi mới nhất của tôi tới Mỹ. Đến cuối
buổi, tự nhiên tôi nghĩ đến Jim Brown và kể cho hai người
nghe về cuộc đổi thoại trong thang máy.
“Ai là người đầu tiên quan niệm rằng người Do Thái là
những người có trí thông minh vậy nhỉ?”, tôi đặt vấn để với
Itamar. “Chỉ là định kiến hay nó có gắn với một sự kiện nào
đó?”
Itamar nhún vai và nhìn lên trời.
“Nghe này,” cậu ta nói to suy nghĩ của mình thành lời,
“trong quá khứ, và thậm chí cả ngày nay nữa, người Do Thái
luôn được gắn với phẩm chất về chất xám và trí tuệ. Thuật ngữ
'Bộ óc Do Thái' dùng để chi một người nào đó thật thông thái,
đã trở thành cụm từ được sử dụng bởi cả những người Do Thái
và người không theo đạo Do Thái.” Cậu ta ngừng lại để suy
nghĩ một lát. “Nhưng điều này rất thú vị,” cậu ta bỗng nhiên
nói tiếp. “Điều bí ẩn này đã phát triển như thế nào, và vể mặt
học thuật mà nói thì nó có còn tồn tại không? Tớ chưa bao giờ
ngẫm nghĩ thật kỹ về vấn đề này.”
“Không phải chỉ vì một kiểu đại loại như chủ nghĩa bài
Do Thái há?”, tôi gợi ý, cố tìm lời giải cho vân đề mình đưa ra.
“Không hẳn là thế,” Itamar nhận xét “Có những người
không chịu ảnh hưởng của những thiên kiên đó, và họ chấp
nhận điểu này như một thực tế hoàn toàn rõ ràng, mặc dù cũng
có xen lẫn một chút đố kỵ. Một kiểu đố kỵ xuất phát từ lòng
ngưỡng mộ,” Itamar khẳng định. “Mặt khác, nếu là quan điểm
bài Do Thái thì 'bộ óc Do Thái' phải được nói bằng những từ
ngữ tiêu cực chứ.”
“Rõ ràng là,” Jerome xen vào cuộc thảo luận, “một
người Do Thái thông minh là một người Do Thái nguy hiểm.
Chính từ điều này, người ta mới dựng nên điều bí ẩn đó – bởi
vì đối với họ một bộ óc Do Thái là một kẻ xảo quyệt, nham
hiểm và khó lường.”
“Dù thế nào đi nữa,” Itamar tiếp tục mà không thèm để ý
đến lối của Jerome. “Có một điều rất thú vị là những người Do
Thái, ít nhất, đã thành công trong việc liên kết những kẻ không
ưa họ và những người ủng hộ họ trong một điều: chưa từng có
ai nói người Do Thái ngu ngốc. Một khuôn mẫu đã luôn gắn
liền với người Do Thái - và mọi đứa trẻ đều lớn lên với khuôn
mẫu này - rằng dân tộc Do Thái là một dân tộc thông minh,
khôn khéo và có đầu óc nhạy bén.”
Tôi nhìn Itamar đầy ngưỡng mộ. Theo nhịp được quá
trình suy nghĩ rất hệ thống và logic của cậu ta lúc nào cũng là
một kinh nghiệm rất thú vị với tôi. Khi ai đó hỏi cậu ta bất cứ
câu hỏi gì, cậu ta không bao giờ trả lời chỉ mang tính chất
chiếu lệ. Cậu ta luôn suy nghĩ theo chiều sâu của vấn đề.
“Mà thực ra, chả có gì bất thường trong chuyện này,”
cậu ta tiếp tục, một minh chứng hùng hồn cho những điều mà
tôi đang nghĩ về cậu ta. “Dân tộc nào chẳng có một vài kiểu
khái quát hóa như thế. Hầu như tất cả các dân tộc đều có
những nét đặc trưng nhất định gắn liền với mình, cho dù
những nét, đặc trưng này có thật hay không đi chăng nữa.
Người Scotland keo kiệt, người Mexico lười biếng, người
Thụy Sĩ nghiêm khắc, người Nhật láu cá, người Đức mô
phạm..
“Xem nào,” Itamar nói tiếp, “còn gì nữa không nhỉ… À,
người Italia thì sao nhỉ?”
'“Người Italia là những người tình tuyệt vời,” Jerome
phát biểu.
“Còn người Pháp?” Itamar vẫn tiếp tục.
“Người Pháp cũng là những người tình tuyệt vời,”
Jerome thông thái khẳng định.
“Có dân tộc nào không khiến cậu nghĩ đến chuyện trăng
hoa lăng nhăng không hả?”, tôi hỏi Jerome.
[4]
“Có chứ,” hắn trả lời. “Người Polak . Tớ không thể
tượng tượng ra cảnh họ trên giường.” Ba chúng tôi cùng bật
cười khúc khích khi nghĩ đến cảnh đó. Vấn đề ở đây là mặc dù
cuộc thảo luận là vể chủ đề các mẫu hình đặc trưng, câu nhận
xét này vẫn cho thấy Jerome là người thích phân biệt chủng
tộc và khoái châm biếm.
“Tại sao những con chó ở Ba Lan lại có mũi tẹt?”,
Jerome tiếp, và sau một vài giây im lặng, “Bởi vì chúng đuổi
theo những chiếc xe đang đậu!” Hắn phá ra cười làm chúng tôi
cười theo.
Trong mấy phút sau đó, chúng tôi lao vào những trận
cười nghiêng ngả khi cả ba thay nhau kể chuyện cười về các
dân tộc khác nhau, mỗi câu chuyện lại khiến người kia nhớ
đến một câu chuyện cười đại loại như thế. Dần dần, chúng tôi
cạn hết những câu chuyện và ngồi đó im lặng, cố gắng lấy lại
hơi sau những trận cười mệt lử. Một lần nữa - 'hình như'
những “người Do Thái thông minh” không có sự nhạy cảm với
những nét đặc trưng của các dân tộc khác và tự chiều chuộng
mình bằng việc cười cợt. Nếu chỉ đơn giản là kể các câu
chuyện theo một mạch thống nhất thì đã đành… nhưng đằng
này bạn ta lại kể chuyện đùa để cười đùa, giễu cợt. Liệu bạn có
cười không nếu một nhóm những gã người Tây Ban Nha phá
lên cười trước những câu đùa về chuyện người Do Thái viêm
màng túi?
Jerome nghịch chiếc tách cà phê của hắn, nhìn chằm
chằm vào đó như kiêu đang nằm mơ giữa ban ngày. Tôi mân
mê gói đường, còn Itamar hết gập lại duỗi chân trong khi dán
mắt vào cặp vợ chổng già mới buớc vào quán.
“Và chuyện những người Do Thái thông minh,” Itamar
lên tiếng, đưa chúng tôi trở lại với chủ đề đang dở. “thật thú
vị,” cậu ta tiếp tục trầm ngâm. “Tớ phải tìm hiểu xem tại sao
lại có điều bí ẩn này mới được.” Trông cậu ta như thể thực sự
đang rất trăn trở trước vấn đề đó.
“Các cậu biết đấy,” tôi bất chợt lý luận. “Tớ đã giảng
một vài buổi tại Viện ngôn ngữ Do Thái về việc cải thiện trí
[5]
nhớ. Cuối mỗi buổi dạy, sinh viên lớp Torah hay đến chỗ tớ
và nói về những phương pháp nghiên cứu, những kỹ năng phát
triển trí nhớ mà họ vẫn sử dụng. Điểu thú vị, điều này có liên
quan đến vấn đề chúng ta đang thảo luận, là tớ chưa từng bắt
gặp những phương pháp đó trong bất cứ cuốn sách nào hay
trong bất cứ nghiên cứu nào mà tớ từng thực hiện.”
Mắt Itamar sáng lên. “Cậu nói nghiêm túc chứ?” Cậu ta
kéo ghế thẳng lại và ngồi dựa vế phía tôi.
“Rất nghiêm túc,”' tôi trả lời.
“Điều đó thật đáng kinh ngạc,” cậu ta nói bằng một
giọng phấn khích mà tôi không thể nào hiểu nổi. Cậu ta nhìn
đăm đăm ra ngoài cây táo trồng trong sân, đôi mắt đảo đảo cho
thấy cậu ta đang suy nghĩ hết công suất.
“Điều gì đáng kinh ngạc cơ?” Jerome, cũng giống như
tôi, đang cố gắng hiểu sự việc.
“Ở đây, chúng ta có hai điểm,” cậu ta phân tích tình
huống theo đúng cái kiểu 'Itamar-biết-tuốt' đặc trưng của
mình. “Chúng ta có một điều bí ẩn đằng sau sự khôn ngoan và
sắc sảo của người Do Thái, và chúng ta có những phương pháp
thực tế mà người Do Thái đã sửdụng trong hàng thế kỷ qua!”
Cậu ta phá vỡ dòng suy nghĩ của chính mình. “Nếu tớ hiểu
đúng, chúng ta đang có một câu chuyện vĩ đại trong tay - câu
chuyện về một dân tộc Do Thái thông tuệ với những
phương pháp và kỹ thuật phát triển tầng lớp trí thức đã
được giữ kín hàng ngàn năm như một bí mật mang tính
chất văn hóa. Chúng ta có thể viết nên một cuốn sách kỳ vĩ về
tất cả những điều này.”
“Tại sao phải làm thế?”, Jerome hỏi, chẳng thèm che dấu
sự thiếu hứng thú của mình.
“Để tất cả mọi người trên thế giới này có thể được
hưởng lợi từ bí mật đó, tất nhiên là thế rồi,” Itamar đập mạnh
tay xuống bàn đầy hăng hái. “Nghĩ mà xem. Chúng ta có thể
dạy cho những đứa trẻ người Na Uy, chẳng hạn thế, cách để
ghi hàng núi thông tin về các bài kiểm tra thông qua việc sử
dụng chính những phương pháp đã giúp các sinh viên Do Thái
theo học tại trường đạo nhớ được kinh Talmud giỏi đến vậy!
Chủng ta cũng có thể dạy các thương nhân cách đàm phán,
thương thuyết bằng chính phương pháp mà các nhà buôn Do
Thái đã làm ở châu Âu… hay… thậm chí… chúng ta có thể
chỉ cho sinh viên Harvard cách đạt toàn điểm A bằng chính
những kỹ thuật đã biến Marahal của Praha hay Gaon của
[6]
Vilna thành những học giả Torah vĩ đại!
“Nếu chúng ta nói đến những phương pháp có hiệu quả
thì tại sao lại phải bó hẹp chúng trong khuôn khổ bức tường
của những trường đạo chứ? Tại sao tất cả mọi người lại không
áp dụng những phương pháp đó chứ? Các cậu có hiểu điểu tớ
muốn nói không? Chúng ta có thể bật mí những bí mật của bộ
óc Do Thái!” Cậu ta kết thúc suy nghĩ của mình bằng một sáng
kiến, một điều đang bắt đầu sôi sục lên trong tâm trí mình.
Sự kích động của Itamar bắt đầu ảnh hưởng đến tôi. Có
một điều gì đó trong những điều cậu ta nói thực sự rất độc đáo.
Đó là kiểu ý tưởng mà bạn sẽ tự hỏi chính mình, “Làm sao mà
mình lại không nghĩ ra sớm hơn nhỉ?”
Một lúc sau, Jerome buông ra một câu làm chúng tôi cụt
hứng.
“Xin lỗi nhé, nhưng chính xác thì 'chúng ta' mà bọn
mình đang nói đến là ai vậy? Với tất cả lòng tự trọng, tớ chính
xác không phải là ứng cử viên thích hợp cho vị trí đồng tác giả
[7]
đâu đấy. Đẩu tiên, tớ đủ vừa đủ điểm qua được kỳ thi SAT .
Thứ hai, trừ khi có phương pháp nào đó để phát triển tri thức
hướng tới việc kiếm một cô bạn gái, còn nếu không, tớ chả
hứng thú với cuốn sách của các cậu đâu,” Jerome nói huỵch
toẹt. Roi ngay lập tức, hắn nói thêm “dù vậy, tớ sẵn sàng giúp
các cậu tiếp thị tại thị trường Carribe. Biết đâu kế hoạch này
lại giúp vụ kinh doanh quần áo của tớ ở đấy phát đạt thì sao.
Nó sẽ nhắc người ta nhớ rằng người Do Thái là những người
cực kỳ sáng láng… đại loại như thế.” Hắn cười tự mãn ra vẻ
rất đồng tình.
“Cậu nói gì ấy nhỉ, Eran?” Itamar hỏi tôi. “Cậu có muốn
thực hiện ý tưởng này không?”
“Nghe có vẻ thú vị lắm,” tôi trả lời. “Thực sự rất hấp
dẫn,” Tôi không thể kiềm chế được.
Itamar thu xếp mấy thứ đồ lặt vặt của cậu ta và ra hiệu
cho bồi bàn đem hóa đơn đến cho chúng tôi. “Đến thứ sáu tuần
sau, tớ sẽ tìm hiểu được sự hình thành bí ẩn về người Do Thái
thông minh. Tớ có một vài giả thuyết về sự bí ẩn này.” Cậu ta
nguệch ngoạc vài dòng ra một tờ khăn ăn nhỏ, nhét nó vào túi
bên của chiếc cặp da và kéo ghế đứng dậy. “Xin lỗi nhưng tớ
phải đi đây. Tớ có hẹn với nha sĩ” cậu ta giải thích.
Jerome cũng đứng dậy và thay cặp kính đọc sách bằng
một cặp kính râm thời trang. “Cả tớ, cũng phải đi con đường
của mình đây,”' hắn nói. “12 giờ tớ có hẹn với chuyên gia
chăm sóc sắc đẹp, Bob,” hắn lại một ỉlần nữa giở câu đùa quen
thuộc.
“Còn tớ thì có hẹn với cái hóa đơn, chắc là vậy rồi,” tôi
thở dài khi thọc tay vào túi quần và rút ví ra.
Liền kề với bãi đỗ xe bên ngoài, trước khi đến lối vào
siêu thị, tôi chợt thấy cô Lippman, cô giáo tôi hồi lớp sáu. Hai
mươi năm đã trôi qua kể từ lần cuối tôi gặp cô (nói đúng hơn
là làm phiền cô, như tôi vẫn thường vậy), và tôi nghĩ rằng
minh nên lịch sự một chút bằng cách đến chào cô. Tôi băng
qua đường và gọi to. “Cô Lippman ơi.”
Cô quay lại và nheo nheo mắt, cố nhận ra xem tôi là ai,
“Yossi à,” cô hướng về phía tôi.
“Eran ạ,” tôi sửa lại.
“Eran Burnstein!” cô nói thêm.
“Eran Katz.”
“Eran Katz hả!” cô kêu lên cùng một nụ cười gượng.
“Ôi, tất nhiên là cô nhớ rồi.”
Trên khuôn mặt cô tôi chẳng thấy có dấu hiệu gì chứng
tỏ niềm vui của cô khi gặp lại cậu học trò cũ là tôi.
Tôi hỏi thăm tình hình cô và tỏ ý muốn nghe những điều
cô đã trải qua trong suốt hai mươi năm qua. Rõ ràng là cô đã
đi qua rất nhiều sự kiện. Mà thực tế là hình như năm nào cũng
có một điều gì đó đáng kể xảy ra với cô, và tôi là một kẻ cực
kỳ may mắn mới được nghe tắt cà những sự kiện đó, với tốc
độ khoảng mười lăm phút cho mỗi năm.
Mặc dù sự chán ngán và khó chịu đã vây xung quanh tôi
nhưng tôi nghĩ mình nên cho cô một chút cảm giác hài lòng
trong nghề nghiệp. Nhiểu năm đã trôi qua từ khi tôi phá hoại
những buổi cô lên lớp hay đơn giản chỉ là không thèm đến lớp,
giờ tôi tự hào nói với cô rằng tôi, một học sinh cá biệt, đang
viết một cuốn sách về bí mật của bộ óc Do Thái, và tôi đang
tìm hiểu sự thật đằng sau bí ẩn về sự thông minh của người Do
Thái,
“Cái đó thì có gì mà tìm hiểu?” Cô hỏi tôi, với đúng cái
giọng của một bà giáo. “Đó lả một thực tế! Người Do Thái
luôn thông minh.” Tôi chợt nhớ lại lý do tại sao tôi hay bỏ giờ
cô hai mươi năm về trước. Trong mọi trường hợp, chỉ cần có
cơ hội là cô ngăn cản bất cứ ai có ý định viết một cuốn sách về
bí ẩn sự thông thái của người Do Thái. Cô chính là bằng chứng
sống cho thực tế rằng không phải người Do Thái nào cũng
được Đấng tối cao ban cho một bộ óc. Mặt khác, chính vì cô,
niềm hứng thú của tôi với việc tìm hiểu bí ẩn này tiếp tục lớn
dần lên.
Chương 2: Bí ẩn về sự thông thái của người Do Thái
Đúng một tuần sau, chúng tôi lại gặp nhau ở Café
Ladino. Chúng tôi đã không nói chuyện cả tuần vừa rồi và tôi
thấy mình thực sự trông đợi buổi tụ họp lần này. Tôi băn
khoăn không biết Itamar có bỏ công tìm hiểu về điều bí ẩn đó
không và cậu ta có phát hiện ra thông tin gì hay không, hay là
sự hào hứng của cậu ta đã nguội dần trong mấy ngày qua.
Khi tôi đến quán cà phê thì thấy Jerome đang đợi bên
ngoài. Hắn kẹp một tờ báo dưới cánh tay và mặc một chiếc áo
sơ mi, có iẽ là kinh dị nhất mà tôi từng thấy: một chiếc áo có
cảnh rừng rú loang lổ màu in hình Kofi Anan, Tổng Thư ký
Liên Hợp Quốc, đang chuyền cành từ cây nọ sang cây kia.
Quán vắng tanh, còn Fabio thì đang đợi chúng tôi với
cánh tay giang rộng. Chúng tôi ngồi xuống chiếc bàn quen
thuộc trong “hang.” Mười phút sau, Itamar xuất hiện, đóng bộ
một bộ vest tối màu, thanh lịch cùng một chiếc cà vạt lụa màu
vàng sáng, trông có vẻ đắt tiền.
“Jerome này, đây mới là kiểu chúng ta nên mặc,” tôi
phát biểu, mắt vẫn không rời khỏi Itamar.
“Trông cậu bảnh lắm,” Jerome nhận xét, “nhưng tớ nghĩ
bộ này cần thêm một chút màu sắc nữa… có lẽ là điểm thêm
vài vệt hồng hồng, xanh xanh thì đẹp hơn.”
“Hôm nay tớ phải đi dự một buổi hội đàm,” Itamar giải
thích vẻ hối lỗi. Cậu ta ngồi xuống ghế và rút ra một đống giấy
tờ, sách vở từ trong túi.
“Các cậu nghĩ sao,” cậu ta bắt đầu bằng một vẻ mặt rất
thỏa mãn, “nếu tớ nói rằng cả tuần vừa qua, tớ chẳng làm việc...
 





